Luyện chữ đẹp với các nét cong…

Luyện chữ đẹp với các nét cong…

Nhóm nét cong, thắt

*Chữ r: cao 2,5 ô ly, rộng 2 ô ly rưỡi với các nét xiên phải, cuối nét có vòng xoắn thắt nhỏ và nét móc hai đầu, đầu bên trái cao lên nối liền với nét xoắn thắt nhỏ.

Điểm đặt bút ở giữa ĐKD 1 và 2, trên ĐKN 1 đưa nét thẳng xiên lên gần nơi giao nhau cua ĐKN 3 và ĐKD 2, lượn sang trái hơi uốn cong tạ thành vòng xoắn nhỏ, vượt lên ĐKN 3, xoay hướng ngòi bút đưa tiếp sang phải nối liền với nét móc hai đầu, tạo nét thẳng nằm trùng với đường kẻ này. Tiếp theo đưa ngang nét bút hơi lượn cong xuống để viết nét móc ngược phải. Điểm kết thúc là giao điểm của ĐKD 4 và ĐKN 2.

*Chữ s: Cao 2,5 ô ly, rộng 2,5 ô ly. Có sự biến điệu nét thẳng xiên chéo sang phải và nét cong phải. Từ điểm đặt bút trên đường giao nhau của ĐKN 1 và ĐKD 1 viết nét thẳng xiên sang phải theo hướng đi lên đến trên ĐKN 3, tạo nét xoắn thắt nhỏ nằm phía trên ĐKN 3. Điểm dừng bút nằm giữa ĐKN 1 và ĐKN 2.

 

*Chữ v: cao 2 ô ly, rộng 3 ô ly. Viết 1 nét móc hai đầu nhưng phần cuối có biến điệu, cuối nét kéo dài rồi lượn sang trái tạo vòng xoắn nhỏ.

Đặt bút tại ĐKN 2 và 3, trên ĐKD 1 viết nét móc hai đầu dựa vào ĐKD 2, kéo xuống ĐKN 1 lượn cong lên bên phải đến giữa ĐKN 2 và 3, giữa của đường kẻ dọc 3 và 4 thì đổi hướng ngòi bút tạo vòng xoắn nhỏ chạm vào giao nhau của ĐKN 3 với ĐKD 3. Sau đó vòng tiếp và hướng lên trên cho đến gần ĐKN 3 trên ĐKD 4.

*Chữ c: cao 2 ô ly, rộng 1 ô ly rưỡi gồm 1 nét cong trái.

Đặt bút dưới ĐKN 2, viết nét cong về bên trái có điểm xa nhất nằm trên đường kẻ phân cách giữa ĐKD 1 và 2, lượn xuống phái dưới về bên phải đến ĐKN 1 rồi đưa bút lên.

*Chữ e: cao 2 ô ly, rộng 1, 75 ô ly với nét cong phải nối với nét cong trái.

Đặt bút cao hơn ĐKN 1 đưa bút chéo sang phải, hướng lên trên, lượn cong tới ĐKN 3, sau đó viết nét cong trái như viết nét cong trái như viết chữ c. Điêm dừng bút ở giữa ĐKN 1 và 2 trên ĐKD 3.

*Chữ ê: giống như chữ e, sau đó viết dấu mũ. Cách viết dấu mũ: Đặt bút trên đầu chữ e, viết nét xiên trái rồi xoay hướng ngòi bút viết nét xiên phải tạo thành dấu mũ ˆ

*Chữ x: Cao 2 ô ly, rộng 3 ô ly. Viết nét cong phải, cong trái chạm vào lưng nhau.

Điểm đặt bút dưới ĐKN 3, lương cong sang phải viết nét cong phải. Tiếp tục lia bút viết nét cong trái như chữ c. Lưu ý cần cho lưng hai nét cong chạm vào nhau.

Cần luyện tập nhiều và lặp đi lặp lại các bài tập trong nhóm chữ này để nét chữ được cong và đều nét.

Nguồn tài liệu: Internet

LUYỆN CHỮ ĐẸP QUEENBEE
✍️️ Chuyên đào tạo luyện chữ đẹp 
✍️️ Cung cấp các sản phẩm bút vở luyện chữ đẹp
Đc1: Số 12, ngách 299/35 Đại Mỗ, Nam Từ Liêm, Hà Nội. 
Đc2: P108 nhà C7, Tô Hiệu, Nghĩa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội.
Sđt/zalo: 0979365838

CÔNG THỨC TOÁN HỌC QUA CÁC BÀI THƠ

CÔNG THỨC TOÁN HỌC QUA CÁC BÀI THƠ

TÌM TRUNG BÌNH CỘNG CỦA 2 SỐ
Để tìm được số trung bình Tổng các số hạng, nào mình tính ra.
Số trung bình cộng sẽ là
Tổng chia đầu số(*), chúng ta cùng làm.
(*) đầu số: số lượng các số hạng
TÍNH VẬN TỐC – QUÃNG ĐƯỜNG – THỜI GIAN
Bạn ơi vận tốc tính sao?
Quãng đường mình lấy chia vào thời gian.
Quãng đường để tính, cần làm
Ta mang vận tốc, thời gian nhân vào.
Còn thời gian tính thế nào?
Quãng đường, vận tốc chia vào cho nhau.
Toán học qua thơ
TÌM HAI SỐ KHI BIẾT TỔNG VÀ HIỆU CỦA HAI SỐ
Muốn tìm số bé thì cần Tổng trừ đi hiệu, hai phần chia ra.
Muốn tìm số lớn thì ta
Lấy tổng cộng hiệu, chia ra hai phần.
Tìm được một số thì cần (**)
Lấy tổng trừ nó để lần số kia.
 (**): sau khi tìm được số lớn hoặc số bé ta lấy tổng trừ nó để tìm số còn lại, cách này nhanh hơn
CỘNG, TRỪ, NHÂN, CHIA PHÂN SỐ
Cộng hai phân số với nhau
Mẫu cùng: tử trước tử sau cộng vào
Nếu mà khác mẫu thì sao?
Quy đồng mẫu số, cộng vào như trên.
Mẫu chung ta phải giữ nguyên
Rút gọn (nếu có) chớ quên bạn à.
Trừ hai phân số thì ta
Giống như phép cộng thay là trừ thôi.
Nhân hai phân số biết rồi
Tử sau tử trước bạn ơi nhân nào
Tiếp tục hai mẫu nhân vào
Rút gọn (nếu có) thế nào cũng ra.
Chia hai phân số sẽ là
Phân số thứ nhất chúng ta nhân cùng
Số chia đảo ngược là xong
Bạn làm tốt nếu THUỘC LÒNG đó nha.
TÍNH CHU VI – DIỆN TÍCH – THỂ TÍCH MỘT SỐ HÌNH
 Muốn tính diện tích hình vuông
Cạnh nhân chính nó ta thường làm đây.
Chu vi mình tính thế này
Một cạnh nhân bốn đúng ngay bạn à.
Diện tích tam giác sao ta?
Chiều cao nhân đáy chia ra hai phần.
Diện tích chữ nhật thì cần
Chiều dài, chiều rộng bạn đem nhân vào.
Chu vi chữ nhật tính sao?
Chiều dài, chiều rộng cộng vào nhân hai.
Bình hành diện tích không sai
Chiều cao nhân đáy ai ai cũng làm.
Muốn tính diện tích hình thang
Giá trị hai đáy nhớ mang cộng vào
Tổng này nhân với chiều cao
Chia đôi lấy nửa thế nào chẳng ra.
Hình thoi diện tích tính là
Tích hai đường chéo chia ra hai phần.
Chu vi gấp cạnh bốn lần
Lập phương diện tích toàn phần tính sao?
Diện tích một mặt tính nào
Rồi đem nhân sáu chẳng sai bao giờ
Xung quanh tính dễ bất ngờ
Một mặt nhân bốn bây giờ là ra.
Thể tích mình sẽ tính là
Lấy cạnh, cạnh, cạnh  ta nhân chúng vào.
Hình tròn, thì phải tính sao?
Bán kính, bán kính nhân vào với nhau
Ba phẩy mười bốn nhân sau
Chính là diện tích ở đâu cũng làm.
Chu vi tính cực nhẹ nhàng
Ba phẩy mười bốn ta mang nhân cùng
Số đo đường kính là xong.
Hình hộp cũng chẳng lòng vòng bạn ơi
Xung quanh hình hộp dễ thôi
Tính chu vi đáy xong rồi nhân ra
Cùng chiều cao nữa thôi mà
Thể tích hình hộp chúng ta biết rồi
Tích ba kích thước mà thôi
Để giải hình tốt bạn ơi THUỘC LÒNG.
Sưu tầm
Học toán qua các bài thơ
TỔNG HỢP CÁC CÔNG THỨC TOÁN HỌC BẰNG THƠ
Tìm sin lấy đối chia huyền
Cosin ta lấy kề huyền chia nhau
Còn tang ta sẽ tính sau
Đối trên kề dưới chia nhau ra liền.
Cotang ngược lại với tang
Kề trên đối dưới tính liền một khi
Trên đường kẻ chậm với người mau.
Hai kẻ đồng chiều muốn gặp nhau.
Vận tốc đôi bên tìm hiệu số.
Đường dài chia với khó chi đâu.
(Còn nếu ngược chiều thì tìm tổng số).
Muốn tính diện tích hình thang
Ta đem đáy nhỏ đáy to cộng vào
Rồi đem nhân với đường cao
Chia đôi kết quả thế nào cũng ra.
Còn đây là nguyên tắc để 2 tam giác bằng nhau:
Con gà con, gân cổ gáy, cúc cù cu
(cạnh góc cạnh, góc cạnh góc, cạnh cạnh cạnh)
Trong 1 tam giác vuông ta có :
Sin đi học ( Sin = Đối / Huyền )
Cos không hư ( Cos = Kề / Huyền )
Tang (tg) đoàn kết ( Tg = Đối / Kề )
Côtang (cotg) kết đoàn ( Cotg = Kề / Đối )
Muốn tìm diện tích hình vuông
Cạnh nhân với cạng ta thường chẳng sai
Chu vi ta đã học bài
Cạnh nhân với bốn có sai bao giờ
Muốn tìm diện tích hình tròn
Pi nhân bán kính bình phương sẽ thành
….
Trong 1 tam giác vuông ta có :
Sin đi học ( Sin = Đối / Huyền )
Cos không hư ( Cos = Kề / Huyền )
Tang (tg) đoàn kết ( Tg = Đối / Kề )
Côtang (cotg) kết đoàn ( Cotg = Kề / Đối )
Version 2:
Sin (Sin) đi học ( Sin = Đối / Huyền )
Cứ (Cos) khóc hoài ( Cos = Kề / Huyền )
Thôi (Tang) đừng khóc ( Tg = Đối / Kề )
Có (Côtang) kẹo đây ( Cotg = Kề / Đối )
——————————————————————————–
Sin Đi Học, Cứ Khóc Hoài, Thích Đòi Kẹo, Có Kẹo Đây (Sin = Đối / Huyền, Cosin = Kề / Huyền, Tang = Đối /Kề, Cotang = Kề / Đối )
Mình góp tý nhỉ, nhớ là khi cô giáo dạy tới bài Giải hệ phương trình hai ẩn bằng định thức thì cô dạy bài này cái này: Anh Bạn Cầm Bát Ăn Cơm
Hệ phương trình này nè: a x+b y=c và a’x+b’y=c’
Định thức là: D=ab’-a’b, Dx=ca’-c’a, Dy=ac’-a’c.
Muốn tính diện tích hình thang
Ta đem đáy nhỏ đáy to cộng vào
Rồi đem nhân với đường cao
Chia đôi kết quả thế nào cũng ra.
Theo mình nhớ thì bài này còn một version nữa (có vẻ có vần hơn):
Muốn tính diện tích hình thang
Đáy lớn, đáy bé ta mang cộng vào,
Cộng rồi nhân với chiều cao
Chia đôi lấy nửa thế nào cũng ra.
còn đây la` 1 bài thơ tự hoạ
Muốn tính diện tích Việt Nam
Ta đem Trung Quốc Thái Lan cộng vào
Rồi đem nhân với nước Lào
Campuchia phát thế nào cũng ra… 😉
Học công thức toán bằng thơ – Kì 3: Cúc cù cu
– Tiếp theo kì 1 và kì 2. Các bài thơ vẫn rất thú vị.
HỆ THỨC LƯỢNG TRONG TAM GIÁC VUÔNG
Sao Đi Học ( Sin = Đối / Huyền)
Cứ Khóc Hoài ( Cos = Kề / Huyền)
Thôi Đừng Khóc ( Tan = Đối / Kề)
Có Kẹo Đây ( Cotan = Kề/ Đối)
Sin : đi học (cạnh đối – cạnh huyền)
Cos: không hư (cạnh đối – cạnh huyền)
Tang: đoàn kết (cạnh đối – cạnh kề)
Cotang: kết đoàn (cạnh kề – cạnh đối)
Tìm sin lấy đối chia huyền
Cosin lấy cạnh kề, huyền chia nhau
Còn tang ta hãy tính sau
Đối trên, kề dưới chia nhau ra liền
Cotang cũng dễ ăn tiền
Kề trên, đối dưới chia liền là ra
DIỆN TÍCH
Muốn tính diện tích hình thang
Đáy lớn, đáy bé ta mang cộng vào
Rồi đem nhân với đường cao
Chia đôi kết quả thế nào cũng ra.
Muốn tìm diện tích hình vuông,
Cạnh nhân với cạnh ta thường chẳng sai
Chu vi ta đã học bài,
Cạnh nhân với bốn có sai bao giờ.
Muốn tìm diện tích hình tròn,
Pi nhân bán kính, bình phương sẽ thành.
Nguyên tắc để 2 tam giác bằng nhau
Con gà con, gân cổ gáy, cúc cù cu
(cạnh góc cạnh, góc cạnh góc, cạnh cạnh cạnh)
Bonus: CÔNG THỨC VẬN TỐC
Trên đường kẻ chậm với người mau.
Hai kẻ đồng chiều muốn gặp nhau.
Vận tốc đôi bên tìm hiệu số.
Đường dài chia với khó chi đâu.
(Còn nếu ngược chiều thì tìm tổng số).
  1. Công thức tính sin, cosin, tang, cotang trong tam giác vuông:
  • Sao đi học (Sin = Đối / Huyền)
    Cứ khóc hoài (Cosin = Kề / Huyền)
    Thôi đừng khóc (Tang = Đối /Kề)
    Có kẹo đây (Cotang = Kề / Đối )
  • Tìm sin lấy đối chia huyền
    Cosin ta lấy kề huyền chia nhau
    Còn tang ta sẽ tính sau
    Đối trên kề dưới chia nhau ra liền.
    Cotang ngược lại với tang
    Kề trên đối dưới tính liền một khi.
  1. Một số nguyên tắc, công thức hình học:
  • Nguyên tắc để hai tam giác bằng nhau:
    Con gà con, gân cổ gáy, cúc cù cu
    (cạnh góc cạnh, góc cạnh góc, cạnh cạnh cạnh)
  • Muốn tìm diện tích hình vuông
    Cạnh nhân với cạnh ta thường chẳng sai
    Chu vi ta đã học bài
    Cạnh nhân với bốn có sai bao giờ
    Muốn tìm diện tích hình tròn
    Pi nhân bán kính bình phương sẽ thành
  • Muốn tính diện tích hình thang
    Ta đem đáy nhỏ đáy to cộng vào
    Rồi đem nhân với đường cao
    Chia đôi kết quả thế nào cũng ra.

QUY TRÌNH DẠY HỌC TỪ LỚP 1 ĐẾN LỚP 5

QUY TRÌNH DẠY HỌC TỪ LỚP 1 ĐẾN LỚP 5

Cùng chia sẻ bài viết quy trình dạy học từ lớp 1 đến lớp 5 với tất cả các bộ môn từ âm vần, tiếng việt, toán, đạo đức, lịch sử, công nghệ…

Từ ổn định tổ chức lớp, đến kiểm tra bài cũ và bắt đầu bài học mới – Quy trình dạy học các môn, phân chia tiết dạy phù hợp, cách thức dạy đến thời gian dạy ra sao.
Quý thầy cô cũng tham khảo nhé.
Chia sẻ bài viết Quy trình dạy học từ lớp 1 đến lớp 5  

 

Lòng bàn tay của bạn có hình gì? Từ đó nhìn ra bạn có mệnh phú quý hay không

Lòng bàn tay của bạn có hình gì? Từ đó nhìn ra bạn có mệnh phú quý hay không

Hãy thử kiểm tra bàn tay của bạn có hình gì và lựa chọn 1 trong những phương án dưới đây.

A: Hình chữ nhật

B: Hình vuông

C: Hình bầu dục

D: Hình thang

KẾT QUẢ

 

A: Hình chữ nhật

Tính cách:

Những người có tướng tay kiểu này thường là đại phú đại quý, không tính toán chi li với người khác, có tài lãnh đạo thiên phú, sống tích cực, lạc quan, dũng cảm đối mặt vượt qua mọi khó khăn, tin rằng số phận chính là do mình nắm giữ, dựa vào chính bản thân mình để nỗ lực vươn lên.

Tình cảm:

Về mặt tình cảm thì người có tướng tay hình chữ nhật lại vô cùng cố chấp, bảo vệ quan điểm của mình đến cùng, không lãng mạn, nhưng lại là đối tượng rất đáng tin cậy để kết duyên.

Công việc:

Bởi bản thân nỗ lực làm việc nên có tính thuyết phục cao, giao tiếp hài hòa trong công việc, luôn dựa trên tinh thần hợp tác cùng làm việc, chủ yếu là mẫu người làm lãnh đạo.

Vì thế sau khi trải qua khó khăn, vất vả thì có một cuộc sống ấm no, đầy đủ, hạnh phúc.

B: Hình vuông

Tính cách:

Người có lòng bàn tay hình vuông thường có tính cách tương đối tự chủ, không thuận theo người khác, thiên về cố chấp.

Nhưng lại có tham vọng rất lớn, không thích bị thua kém, hơn nữa là người có khát vọng rõ ràng, vì thế cũng rất coi trọng sự tôn nghiêm.

Kiểu người này không dễ dàng thổ lộ tình cảm với người khác, thích cuộc sống ổn định, cam đảm thể hiện bản thân, khoan dung, biết chăm sóc người khác, bên ngoài thì biểu hiện rất lạnh lùng nhưng kỳ thực lại rất dễ bị rung động.

Tình cảm:

Người có tướng tay kiểu này tương đối lãng mạn, có tầm nhìn cao, cái gì gọi là nội ngoại kiêm tu chính là định nghĩa toàn diện nhất cho người có tướng tay kiểu này.

Công việc:

Người có tướng tay hình vuông đầu óc rất linh hoạt, có lý tưởng, có khát vọng, thích hợp làm những công việc nhẹ nhàng mà lại đầy thử thách, ví dụ như quản lý thị trường tiêu thụ hành chính.

Khi còn trẻ thì cuộc sống sẽ rất khó khăn, nhưng sau khi tích lũy đầy đủ kinh nghiệm sống thì mọi thứ sẽ thuận lợi hơn, đến tuổi trung niên sẽ phát tài, tích lũy được của cải vật chất.

Hoàn toàn dựa vào bản thân nỗ lực thực hiện các giá trị nhân sinh.

C: Hình bầu dục

Tính cách:

Người sở hữu tướng tay này rất thông minh, khả năng học tập cao, trí tưởng tượng phong phú nhưng lại thiếu kiên trì.

Có khả năng thích ứng với môi trường mới nhanh.

Tuy nhiên nội tâm bất định, hay thay đổi theo người khác.

Thích tìm tòi nghiên cứu, khám phá, có quan điểm rõ ràng, có năng lực đánh giá và phân tích.

Tình cảm:

Đa tình, hay thay lòng đổi dạ vì yêu thích những thứ mới lạ. Hơn nữa trên phương diện tình cảm thì hay chơi đùa, rất khó để cùng người này xây dựng tình cảm lâu dài.

Công việc:

Phải ghi nhớ nhiều, phân tích logic. Cả đời không gặp khó khăn hoạn nạn thì khó có thể đạt được thành tựu to lớn.

Giống như tài tử ham chơi, không dụng tâm làm việc, không có sự kiên trì bền bỉ. Cũng may là có đầu óc linh hoạt, cũng có phần tốt, cuộc sống cũng tương đối vất vả.

Nhưng có một điểm người không có công lao thì không nên phàn nàn cuộc sống khó khăn.

D: Hình thang

Tính cách:

Người có tướng tay kiểu này thường chất phác, thật thà, sẵn sàng hy sinh bản thân để bảo vệ người khác. Thái độ sống cũng tương đối thản nhiên, thích ứng trong mọi hoàn cảnh, có chút trí huệ.

Không dễ để người khác nắm bắt tâm lý, người có tướng tay như này thường rất tốt bụng!

Tình cảm:

Đối với người mà mình thích thì rất hay ngại ngùng, không dễ thành công, cần nhiều thời gian để chinh phục người mình yêu. Người như vậy thường chung thủy, dễ làm tổn thương người khác.

Công việc:

Người sở hữu tướng tay hình thang làm việc rất chăm chỉ, thường hay âm thầm phó xuất, không phô trương.

Công việc thực tế giúp bạn tích lũy nhiều kinh nghiệm, từ đó sáng tạo ra những thứ khác thường, khiến người khác phải mở rộng tầm mắt.

Cả đời được bình an, càng về già thì vận mệnh càng tốt, danh lợi song thu, được người khác tôn kính.

Theo Đại kỷ nguyên

Khi ‘Tiếng Việt’ được viết thành ‘Tiếq Việt’

Khi ‘Tiếng Việt’ được viết thành ‘Tiếq Việt’

Khi ‘Tiếng Việt’ được viết thành ‘Tiếq Việt’

Chúng ta nghĩ sao nếu chữ ‘luật giáo dục’ phải viết là ‘luật záo zụk’, ‘nhà nước’ là ‘n’à nướk’… Nhưng đó là cách viết cải tiến mà PGS-TS Bùi Hiền đề xuất trong một cuốn sách mới xuất bản gần đây. Điều này gây ra nhiều tranh luận không chỉ trong giới chuyên môn mà cả những người đang sử dụng tiếng Việt.

Chữ viết của tiếng Việt hiện tại chưa hợp lý?

Đó là cuốn sách Ngôn ngữ ở Việt Nam – Hội nhập và phát triển (tập 1) dày 2.200 trang, do nhà xuất bản Dân trí phát hành, nhân Hội thảo ngữ học toàn quốc được tổ chức tại Trường ĐH Quy Nhơn hồi tháng 9. Trong rất nhiều bài viết của các nhà ngôn ngữ học, có bài “Chữ quốc ngữ và hội nhập quốc tế” của tác giả Bùi Hiền với đề xuất cải tiến chữ viết tiếng Việt gây nhiều tranh cãi.

PGS-TS Bùi Hiền (Nguyên Hiệu phó trường ĐHSP Ngoại ngữ Hà Nội, nguyên phó Viện trưởng Viện Nội dung & Phương pháp dạy – học phổ thông) cho biết: “Từ năm 1924, khi toàn quyền Đông Dương ký nghị định cho phép dạy chữ quốc ngữ bắt buộc ở cấp tiểu học, trải qua gần một thế kỷ, đến nay chữ quốc ngữ đã bộc lộ nhiều bất hợp lý, nên cần phải cải tiến để giản tiện, dễ nhớ, dễ sử dụng, tiết kiệm thời gian, vật tư…”.

Những bất hợp lý mà PGS Bùi Hiền đưa ra, đó là hiện tại, chúng ta sử dụng 2, 3 chữ cái để biểu đạt một âm vị phụ âm đứng đầu. Ví dụ C – Q – K (cuốc, quốc, ca, kali), Tr – Ch (tra, cha), S – X (sa, xa)… Bên cạnh đó, lại dùng 2 chữ cái ghép lại để biểu đạt âm vị một số phụ âm đứng cuối vần như Ch, Ng, Nh (mách, ông, tanh…). “Đó là những hiện tượng không thống nhất, không theo một nguyên tắc chung nào dẫn đến khó khăn cho người đọc, người viết, thậm chí gây hiểu nhầm hoặc không hiểu được chính xác nội dung thông tin. Người học như trẻ em hay người nước ngoài, cũng rất hay mắc lỗi do sự phức tạp này mang lại”, tác giả Bùi Hiền chia sẻ.

Từ đó, PGS Hiền kiến nghị một phương án làm cơ sở để tiến tới một phương án tối ưu trình nhà nước. Chữ quốc ngữ cải tiến của tác giả Bùi Hiền dựa trên tiếng nói văn hóa của thủ đô Hà Nội cả về âm vị cơ bản lẫn 6 thanh điệu chuẩn, nguyên tắc mỗi chữ chỉ biểu đạt một âm vị, và mỗi âm vị chỉ có một chữ cái tương ứng biểu đạt. Sẽ bỏ chữ Đ ra khỏi bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành và bổ sung thêm một số chữ cái tiếng Latin như F, J, W, Z. Bên cạnh đó, thay đổi giá trị âm vị của 11 chữ cái hiện có trong bảng trên, cụ thể: C = Ch, Tr; D = Đ; G = G, Gh; F = Ph; K = C, Q, K; Q = Ng, Ngh; R = R; S = S; X = Kh; W =Th; Z = d, gi, r. Vì âm “nhờ” (nh) chưa có kí tự mới thay thế, nên trong văn bản trên tạm thời dùng kí tự ghép n’ để biểu đạt.

PGS-TS Bùi Hiền cho biết: “Đề xuất của tôi có nhiều nhà ngôn ngữ họ thấy hợp lý vì chữ viết mới có một nguyên tắc thống nhất. Nhưng cũng có nhiều ý kiến phản bác vì cho rằng nếu cải tiến vậy sẽ phức tạp, có nhiều hệ lụy. Ví dụ kho tư liệu đồ sộ cũ chuyển sang chữ viết mới thì sẽ xử lý như thế nào. Và để thay đổi sẽ phải mất rất nhiều thời gian: thay đổi nhận thức, thay đổi cách học, cách dạy, sách giáo khoa cũng phải thay đổi, các văn bản, sách, báo, rồi lập trình chữ viết trên máy tính… Phải thay đổi từng bước một. Nhưng chỉ cần mất 1-2 năm là quen dần”.

Bù lại, theo PGS Hiền, cải tiến theo cách này sẽ thống nhất được chữ viết cho cả nước, loại bỏ được hầu hết các thiếu sót, bất cập không nhất quán trước đây gây khó khăn cho người dùng (dẫn mắc lỗi chính tả), giản tiện được bộ chữ cái khi từ 38 chữ cái chỉ còn 31, dễ nắm được quy tắc, dễ nhớ. Ngoài ra, còn tiết kiệm được thời gian, công sức, vật tư trong quá trình tạo lập các văn bản trên giấy, trên máy tính.

Sẽ mất đi sự tinh tế trong cách viết, đọc và phát âm của tiếng Việt

Chia sẻ về vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, PGS-TS Nguyễn Hữu Hoành, Phó Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học Việt Nam cho biết, vấn đề này đã được các nhà ngôn ngữ học trao đổi, đề cập rất nhiều trong những năm qua chứ không riêng gì đề xuất của PGS-TS Bùi Hiền.

“Tuy nhiên, không thể thay đổi được và cũng không nên thay đổi, vì chữ viết liên quan đến văn hóa, lịch sử và rất nhiều vấn đề khác. Ngay cả tiếng Anh, một ngôn ngữ phổ biến có nhiều chữ đọc và viết bất hợp lý mà cũng không ai nghĩ đến việc cải tiến. Đến nay, trải qua nhiều thế kỷ, tiếng Việt đã định hình và chữ quốc ngữ đã tồn tại cả thế kỷ với kho tư liệu đồ sộ từ lúc hình thành đến bây giờ”, PGS-TS Nguyễn Hữu Hoành nhìn nhận.

GS-TS Bùi Khánh Thế (chuyên ngành ngôn ngữ học, Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học và đào tạo Trường ĐH Ngoại ngữ-Tin học TP.HCM ), cũng cho rằng, từ năm 1997, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM đã tổ chức hội thảo Chữ quốc ngữ và sự phát triển chức năng xã hội của tiếng Việt, với 32 bài viết từ các chuyên gia ngôn ngữ. Từ đó đến nay cũng có rất nhiều hội thảo, chuyên đề đề cập tới việc nên giữ hay cải tiến.

Nói về đề xuất của PGS-TS Bùi Hiền, giáo sư Bùi Khánh Thế cho biết: “Có một số bất hợp lý, chẳng hạn ký tự q lại thay thế cho chữ ng, z thay gi, c thay tr, ch… Chưa kể làm vậy sẽ mất đi sự tinh tế trong cách viết, đọc và phát âm của tiếng Việt. Từ lúc hình thành cho đến nay, tiếng Việt có nhiều âm thay đổi nhưng chữ viết vẫn giữ nguyên. Đó chính là sự bền vững cần có, chỉ những gì bất hợp lý mới mất đi”.

Theo GS-TS Bùi Khánh Thế, càng đổi mới thì càng bị rối. Đó là chưa kể, sẽ phải tốn rất nhiều thời gian, công sức và kinh phí để thay đổi. Vì thế, đối với chữ quốc ngữ, nên tìm cách chú ý khắc phục những cái khó, hơn là cải tiến.

Một ví dụ PGS-TS Bùi Hiền đưa ra được viết bằng 2 kiểu chữ hiện thời và cải tiến

LUẬT GIÁO DỤC <Điều 7. Ngôn ngữ dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác; dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số; dạy ngoại ngữ.

1. Tiếng Việt là ngôn ngữ chíh thức dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Căn cứ vào mục tiêu giáo dục và yêu cầu cụ thể về nội dung giáo dục, Thủ tướg chíh phủ quy định việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác.

2. Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, giúp cho học sinh người dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được thực hiện theo quy định của Chíh phủ.

3. Ngoại ngữ quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế. Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác cần đảm bảo để người học được học liên tục và có hiệu quả.

LUẬT ZÁO ZỤK

Diều 7. Qôn qữ zùq coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák; zạy và họk tiếq nói, cữ viết kủa zân tộk wiểu số; zạy qoại qữ.

1. Tiếq Việt là qôn qữ cín’ wứk zùq coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák. Kăn kứ vào mụk tiêu záo zụk và yêu kầu kụ wể về nội zuq záo zụk, Wủ tướq cín’ fủ kuy dịn’ việk zạy và họk bằq tiếq nướk qoài coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák.

2. N’à nướk tạo diều kiện dể qười zân tộk wiểu số dượk họk tiếq nói, cữ viết kủa zân tộk mìn’ n’ằm zữ zìn và fát huy bản sắk văn hoá zân tộk, zúp co họk sin’ qười zân tộk wiểu số zễ zàq tiếp wu kiến wứk xi họk tập coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák. Việk zạy và họk tiếq nói, cữ viết kủa zân tộk wiểu số dượk wựk hiện weo kuy dịn’ kủa Cín’ fủ.

3. Qoại qữ kuy dịn’ coq cươq cìn’ záo zụk là qôn qữ dượk sử zụq fổ biến coq zao zịk kuốk tế . Việk tổ cứk zạy qoại qữ coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák kần dảm bảo dể qười họk liên tụk và kó hiệu kuả.

 

Theo: Báo Thanh Niên

Lương giáo viên sẽ xếp cao nhất trong hệ thống bậc lương

Lương giáo viên sẽ xếp cao nhất trong hệ thống bậc lương

Theo dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục hiện hành do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ vừa trình Chính phủ, cùng với việc nâng chuẩn giáo viên tiểu học, chế độ tiền lương của nhà giáo là hai nhóm vấn đề còn có nhiều ý kiến khác nhau nên Bộ GD&ĐT muốn xin ý kiến Chính phủ.

Lương giáo viên mầm non, phổ thông còn thấp

Điều khoản quy định về chế độ tiền lương trong Luật Giáo dục năm 2005, sửa đổi năm 2009 đã có nội dung mới.

Cụ thể, Điều 81 về tiền lương trong Dự thảo nêu cần sửa đổi: “Lương của nhà giáo được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp. Nhà giáo được hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề, phụ cấp thâm niên và các phụ cấp khác theo quy định của Chính phủ”.

Theo lý giải của Bộ GD&ĐT tại tờ trình gửi Chính phủ, nhiều ý kiến cho rằng, hiện nay nhìn chung lương của nhà giáo còn thấp, đặc biệt là nhà giáo ở bậc giáo dục mầm non, phổ thông. Vì vậy, cần phải có cơ chế, chính sách tháo gỡ vấn đề này và cần thể chế hóa quan điểm của Đảng trong Nghị quyết số 29-NQ/TW vào Luật giáo dục.

Do đó, Bộ GD&ĐT yêu cầu sửa điều 81, lương của nhà giáo được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp.

 

Đề xuất nâng chuẩn GV tiểu học lên Cao đẳng

Vấn đề chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo cũng xem là một nội dung cần đề cập sửa đổi, bổ sung trong dự thảo Luật Giáo dục để nhằm thể chế hóa quan điểm của Đảng trong Nghị quyết số 29-NQ/TW.

Theo đó, căn cứ vào thực tiễn đội ngũ nhà giáo, dự thảo Luật đề xuất nâng chuẩn trình độ đào tạo của giáo viên tiểu học từ trung cấp lên cao đẳng.

Cụ thể, Dự thảo sửa đổi bổ sung điểm a khoản 1 Điều 77 như sau: “Có bằng tốt nghiệp trung cấp sư phạm đối với giáo viên mầm non, bằng tốt nghiệp cao đẳng sử phạm đối với giáo viên tiểu học”.

Lương GV chưa theo mức độ công việc

Theo văn bản của Bộ GD&ĐT gửi Bộ Nội vụ và Bộ LĐ-TB&XH về tổng hợp quỹ tiền lương của ngành tính đến ngày 31/12/2016, lương của giáo viên từ 3 đến 10 triệu tùy thuộc vào thâm niên công tác của giáo viên.

Theo Bộ GD&ĐT, việc áp dụng hệ thống thang bảng lương hiện hành chưa theo mức độ phức tạp của công việc (chẳng hạn: giáo viên mầm non, giáo viên tiểu học ở cùng một hạng có chung một bảng lương), trong khi mức lương cơ sở còn thấp so với lương tối thiểu. Do đó, bộ phận giáo viên trẻ có thu nhập thấp hơn lương tối thiểu vùng, trong khi họ phải tham gia đào tạo ít nhất 02 năm. Khoảng cách giữa các bậc lương còn thấp (0,20; 0,31; 0,33…) nên việc tăng lương chưa cải thiện nhiều thu nhập của giáo viên.

Tiền lương và các chế độ đãi ngộ thấp với đội ngũ cán bộ công chức, viên chức có trình độ, có trách nhiệm, làm việc tận tâm, chất lượng và hiệu quả nhưng lại cao đối với cán bộ, công chức, viên chức dù có đủ bằng cấp nhưng lại không đủ trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của công việc.

Cụ thể, đối với giáo viên mầm non: Hệ số lương giáo viên mầm non hạng II được áp dụng hệ số lương của viên chức loại AI (từ hệ số lương 2,34 đến hệ số lương 4,98); hạng III được áp dụng hệ số lương của viên chức loại AO (từ hệ số lương 2,10 đến hệ số lương 4,89); hạng IV được áp dụng hệ số lương của viên chức loại B (từ hệ số lương 1,86 đến hệ số lương 4,06).

Đối vói giáo viên tiểu học: Hệ số lương giáo viên tiểu học hạng II được áp dụng hệ số lương viên chức loại AI (từ hệ số lương 2,34 đến hệ số lương 4,98); hạng III được áp dụng hệ số lương viên chức loại A0 (từ hệ số lương 2,10 đến hệ số lương 4,89); hạng IV được áp dụng hệ số lương viên chức loại B (từ hệ số lương 1,86 đến hệ số lương 4,06).

Đối với giáo viên THCS: Hệ sổ lương giáo viên trung học cơ sở hạng I được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A2. nhóm A2.2 (từ hệ sổ lương 4,00 đến hệ số lương 6,38): hạng II được áp dụng hệ số lương của viên chức loại AI (từ hệ số lương 2.34 đến hệ số lương 4.98): hạng III được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A0 (từ hệ số 2,10 đến hệ số lương 4,89).

Đối với giáo viên THPT: Hệ số lương giáo viên trung học phổ thông hạng I được áp dụng hệ sổ lương của viên chức loại A2, nhóm A2.1 (từ hệ số lương 4,40 đến hệ số lương 6,78); hạng II được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A2, nhóm A2.2 (từ hệ số lương 4,00 đến hệ số lương 6,38); hạng III được áp dụng hệ sổ lương của viên chức loại AI (từ hệ số lương 2,34 đến hệ số lương 4,98).

Đối với giảng viên các trường đại học, cao đẳng: Hệ số lương Giảng viên cao cấp (hạng I) được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A3, nhóm 1 (A3.1) từ hệ số lương 6,20 đến hệ số lương 8,00; Giảng viên chính (hạng II) được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A2, nhóm 1 (A2.1) từ hệ số lương 4,40 đến hệ số lương 6,78; Giảng viên (hạng III) được áp dụng hệ số lương của viên chức loại Al, từ hệ số lương 2,34 đến hệ số lương 4,98.

Nguồn: Mỹ Hà – Dân Trí